Home Nhật ký Yale: Một góc bình yên
Array

Nhật ký Yale: Một góc bình yên

Xuân về. Trời chả nóng chả lạnh, mưa lất phất ngoài phố. Các cành cây gầy guộc ủ ê cả mấy tháng lạnh giá bắt đầu nhú những chồi lá xanh xanh. Các giáo sư áo bông lụ khụ ngồi trong phòng đọc sách hoặc chơi trò chơi điện tử suốt mùa đông như cũng nhú lên, chen nhau ra ngoài phố.

Yale có nhiều chỗ để lang thang. Dọc trong thành phố, các ngôi nhà của trường thường kiến trúc kiểu cổ, theo mẫu Cambride và Oxford. Thư viện chính và nhà thể thao troong như hai tu viện lớn, cổng vòm bề thế. Thế nhưng Art gallery của trường lại làm theo lối mới, tức là một toà nhà hình vuông, bề ngoài rất đơn giản. Nếu nhìn qua, có khi nghĩ nó được xây ở đất nước của Lênin trong những năm 70. Được cái, khi bước vào trong thì không khí rất ấm cúng. Cầu thang cổ kính hình xoắn ốc với ô cửa sổ một bên, mặc váy dạ hội chụp ảnh là rất hợp.

Tầng một của gallery dành cho văn hoá cổ đại (Hy lap, La mã, Babylon vv). Trong con mắt của một người không chuyên thì hiện vật trông giống tất cả những bảo tàng khác, quí ở chỗ nó cổ, còn thì bất kể tượng hay bát hay chum vò, cái nào cũng sứt mẻ lung tung, hiển nhiên đã được dùng qua rất nhiều cuộc hôn nhân. Thú vị nhất có lẽ là một tấm bia nằm trên nền nhà, chỉ ra là vợ chồng cụ Trumbull đã được chôn ngay dưới chỗ này. Cụ (ông) là một hoạ sĩ rất quan trọng thời chiến tranh giành độc lâp của Mỹ. Lúc mất chắc cụ cũng không nghĩ tới việc gallery ngày ngày sẽ có hàng trăm sinh viên trẻ đẹp đi lại tưng bừng. Chỉ có phụ nữ nhìn xa trông rộng, nên cụ bà cương quyết phải nằm cạnh cụ ông cho nó lành.

Một căn phòng ở tầng một thường được sử dụng để triển lãm nhưng các phẩm mới, mang từ nơi khác đến. Cách đây chừng một năm, tác phẩm hot đó là bộ tranh “mười công thức đẹp nhất thế giới”. Tác giả cặm cụi tham vấn một số nhà toán học cây đa cây đề, đặng nhờ họ viết ra mười công thức được coi là quan trọng nhất quả đất. Công thức sau đó được phóng to ra, dấu tích phân bằng cỡ cái móc câu, chụp ảnh đen trắng rất nét treo lên tường. Tất cả khoa toán, dĩ nhiên, không ai đi xem. Khách thăm quan chính là học sinh tiểu học, được cô giáo dẫn đi theo giờ ngoại khoá bắt buộc. Bọn nhóc con mắt chữ o mồm chữ a, vừa nghếch mắt lên xem móc câu vừa ngoáy mũi một cách cẩu thả. Cứ nhìn dáng điệu mà coi thì xem ra sự quan tâm của chúng với toán học nói chung và cảm tưởng của cô giáo về các nhà toán học nói riêng không được mấy phần lãng mạn.

Tầng 3 dành cho các tác phẩm “hiện đại” (modern art). Các tác phẩm này tại sao lại đẹp, thì thường tối đa chỉ có tác giả giải thích được. Nhưng đối với các giáo sư tha thẩn là cà ra đây, các trưng bày này có tác dụng không ngờ. Vốn là một khi bạn suy nghĩ một cái gì đó khá lâu và vẫn tắc tị chả có ý tưởng gì hay, thì một điều an ủi rất lớn là được nhận ra rằng có rất nhiều người còn trong tình trạng tệ hơn mình.

Có lẽ các tác phẩm thú vị nhất nằm ở tầng hai, nơi trưng bày hội hoạ thế kỷ 17 tới 20. Các căn phòng tranh đều nhỏ, tĩnh mịch một hai khách xem, không có cảm giác ngợp và ồn ào như các bảo tàng lớn. Có ba tác phẩm tôi hay xem, nằm phía tay trái khi lên cầu thang.

Bức tranh đầu của Scheffer (một hoạ sĩ người Pháp trong thế kỷ 19, bản thân cũng đã từng là kỵ binh) vẽ cuộc rút lui thê thảm của đoàn quân Napoleon khỏi nước Nga. Như tất cả các tổng chỉ huy thiên tài khác, khi thế thua đã rõ, Napoleon chạy khỏi Nga trước đoàn quân của mình, người chỉ huy đám tàn quân là thống chế Ney. Ney là một quân nhân chân chính, loại chiến sĩ của các anh hùng ca thời cổ đại. Ông ra trận thường dẫn đầu kỵ binh xung phong, ở Waterloo phải thay ngựa bốn lần vì ngựa bị thương mà kiêt sức, rồi bỏ ngựa dẫn bộ binh cảm tử xông vào đội hình của người Anh trong những giờ phút cuối cùng của đế chế. Người Anh sau đã dùng tên ông đặt cho một chiến hạm lớn của hải quân hoàng gia. Nhưng Ney trong bức tranh trông thật mệt mỏi và thất vọng, khuôn mặt vẽ bằng những nét tối, chìm trong nền của bức tranh. Phần sáng của bức tranh là ánh tuyết từ mặt đất chiếu lên, cùng với những xác người và những binh sĩ ôm nhau chờ chết vì giá lạnh.

Ở phòng bên cạnh, có một bản “Người suy nghĩ” (Thinker) của Rodin. Tượng người đàn ông tay chống vào cầm ngồi ngẫm nghĩ trên một phiến đá, từng bắp thịt trên lưng cũng căng lên theo ý nghĩ. Ngôn ngữ cơ thể rất thống nhất và ấn tượng. Tượng Thinker bằng đồng, và được đúc nhiều bản, đặt khắp nơi trên thế giới. Kích cỡ các tượng này đều to như người thường. Nhưng thật ra đơn đặt hàng lúc đầu của Rodin là cả trong một quần thể lớn hơn gồm các nhân vật trong “Thần Khúc” của Dante, với người suy nghĩ (có lẽ mô phỏng chính Dante) ở trung tâm. Khi làm xong, Rodin lại quá thích nhân vật trung tâm này nên làm nó thành một bức tượng riêng, lớn hơn kích cỡ ban đầu. Bản ở Yale (chỉ cao chừng 70 cm), chính là một ấn bản của bức tượng đầu tiên của Rodin trong quần thể lớn.

Căn phòng thứ ba cũng nhỏ, trên tường chỉ có vài bức tranh. Trong đó có một trong những bức hoạ nổi tiếng nhât của Van Gogh: Quán càfe đêm (Le cafe de nuit). Cả bức vẽ bằng gam vàng xanh, nhấn vào ánh đèn lạnh lẽo toả xuống từ trần nhà. Cafe đêm không phải chỗ nam thanh nữ tú tâm sự yêu đương, cũng chẳng phải chỗ trí thức nhà văn cao siêu đàm luận. Nó là chỗ của các bợm nhậu bét nhè, của vài anh vô gia cư hay chán đời không biết đi đâu, và của các cô gái điếm đang giờ ế khách. Tất cả nhân vật trong ảnh, mặc dầu không ai rõ mặt, đều tỏa ra vẻ ủ rũ mệt mỏi. Bản thân Van Gogh đã vẽ bức tranh này để gán nợ cho chủ quán. Ông chủ, đứng giữa bức tranh, mặc comple trắng nhưng không giống Humphrey Bogart của Casablanca một tẹo nào. Mắt ông đầy quầng thâm, và nét mặt chẳng được vui. Mà vui thế nào được khi quán toàn những khách trả nợ bằng tranh thay bằng tiền mặt.

Giữa bức hoạ của Sheffer và tượng của Rodin có một chiếc ghế dài màu đen, chiếc ghế duy nhất trong cả mấy căn phòng. Bạn có thể ngồi đây rất lâu, ngắm tranh hay nhìn ra cửa sổ, dưới nó là khu phố riêng của Đại học Yale. Phố rất hẹp, một chiều và chỉ một làn xe. Một bên là Harkness tower, một biểu tượng của trường thường thấy trên các bưu thiếp và trụ sở của Bones society, một toà nhà nâu cục mịch không có cửa sổ và cửa chính cũng hầu như không bao giờ mở. Mấy chục năm trước, nhưng hội viên của hội này đã sáng lập cục tình báo trung ương Mỹ (CIA). Bên kia là ký túc xá, với những hàng cây cổ thụ và cổng bằng đá. Cô nữ sinh đứng tần ngần dưới mái đá như chờ bạn trai che ô để bước ra.

Mưa vẫn tiếp tục rơi. Có phải hạt mưa nơi nào cũng giống nhau ?

Advertisements

Like this:

Số lượt thíchĐang tải…

Liên quan

- Advertisment -

Most Popular

Recent Comments