Home Nhân vật lịch sử: Tuệ Trung Thượng Sĩ
Array

Nhân vật lịch sử: Tuệ Trung Thượng Sĩ

Núi Yên Tử là một ngọn núi nằm ở ranh giới giữa 2 tỉnh Bắc Giang và Quảng Ninh. Núi này cao, nhưng cũng còn xa so với những ngọn cao nhất ở Việt Nam. Nó nổi tiếng vì được coi là đất Phật, gắn liền với thiền phái Trúc Lâm.

Giáo chủ thứ nhất của phái Trúc Lâm Yên Tử là vua Trần Nhân Tông, đồng thời cũng là một trong những vị vua nổi tiếng nhất trong lịch sử Việt Nam. Vua Nhân Tông lãnh đạo cả nước đánh bại quân Nguyên, bến Tây Kết giết Toa Đô, sông Bạch Đằng bắt Ô Mã, viết nên hùng ca cho người Việt. Nhà vua sau từ bỏ ngai vàng, tu trên Yên Tử, đi khất thực (xin ăn) đến tận Chiêm Thành, người Chiêm rất mến mộ. Nhưng đạo Phật, và cả Yên tử, đã đến với các vua Trần từ khá lâu trước đó.

Năm 1226, Trần Cảnh (sau này là Trần Thái Tông, vua đầu tiên của nhà Trần, ông của Trần Nhân Tông sau này) là một cậu bé, nhờ có thế lực của ông chú (Trần Thủ Độ) là người cầm quyền chính lúc bấy giờ, được vào hầu trong cung. Nhà vua lúc đó là cô bé Lý Chiêu Hoàng hơn Trần Cảnh một tuổi. Hai đứa bé chơi với nhau rất thân thiết. Chiêu Hoàng, vừa là chị, vừa là nữ hoàng, dĩ nhiên bắt nạt bạn, lúc thì chạy vào đúng đằng sau bóng, lúc thì té nước, lúc thì ném khăn. Một hôm nữ hoàng ném khăn trầu cho Cảnh, cậu bé đỡ được mà thưa “Bệ hạ có tha tội cho thần không? Thần xin vâng mệnh”. Chiêu Hoàng cười, nói: “Tha tội cho ngươi. Nay ngươi đã biết nói khôn đó”. Trần Thủ Độ nhân đó xe duyên cho hai người lấy nhau, rồi Chiêu Hoàng nhường ngôi cho Cảnh, xuống làm hoàng hậu. Vương triều nhà Trần bắt đầu.

Các sách sử cũ rất ít khi ghi lại cuộc sống gia đình của các bậc vua chúa. Nhưng nhà vua trẻ, được sống với cô bạn của tuổi thơ và nữ hoàng của mình, có thể đã có một thời gian rất hạnh phúc. Năm 1233, đứa con trai đầu lòng của họ sinh ra, nhưng không sống được lâu. Sau đó Chiều Hoàng không có mang nữa. Trần Thủ Độ, lo lắng cho tương lai của họ Trần, ép nhà vua bỏ vợ mà lấy công chúa Thuận Thiên, vợ Trần Liễu anh ruột nhà vua. Thuận Thiên là chị của Chiêu Hoàng, lúc đó có mang 3 tháng. Trần Liễu uất ức khởi binh dọc theo sông Hồng lên đánh kinh thành.

Trần Cảnh khi đó 20 tuổi. Chàng trai trẻ, ngôi vị đã tột cùng mà lòng đầy đau khổ, một buổi tối cùng mấy người tuỳ tùng bỏ cung điện đi lên Yên Tử. Đến sáng thì tới nơi, bỏ ngựa mà leo bộ lên núi. Nhà vua gặp sư trụ trì là hoà thượng Pháp Vân, khóc mà nói

-Trẫm còn thơ ấu, đã sớm mất mẹ cha, chơ vơ đứng trên sĩ dân, không có nơi nương tựa. Lại nghĩ rằng sự nghiệp đế vương đời trước hưng phế bất thường, cho nên trẫm mới lên núi, chỉ muốn cầu thành Phật, chứ chẳng muốn tìm gì khác.

Hoà thượng đáp:

-Trong núi vốn không có Phật. Phật ở trong tâm ta. Nếu tâm lắng và trí tuệ xuất hiện, đó chính là Phật. Nếu bệ hạ giác ngộ được tâm ấy thì tức khắc thành Phật ngay tại chỗ, không cần đi tìm cực khổ bên ngoài.

Ngày hôm sau, Trần Thủ Ðộ đem các quan lên núi Yên Tử đón vua về kinh, nhà vua không chịu về. Thủ Độ liền sai người làm luôn hành quán dưới chân núi họp các quan ở đó, không ai về Thăng Long nữa. Pháp Vân thấy vậy, cầm tay nhà vua mà nói:

-Phàm làm đấng minh quân, thì phải lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình, tâm thiên hạ làm tâm của mình. Nay thiên hạ muốn đón bệ hạ không về sao được?

Vua Thái Tông theo Trần Thủ Độ trở về Thăng Long, đem chiến thuyền đóng trên sông mà chặn Trần Liễu. Trần Liễu cô thế, phải giả làm người đánh cá đến gặp em để đầu hàng. Trần Thủ Độ biết tin, đến muốn chém Liễu. Vua Thái Tông dùng thân mình che chở cho anh, Trần Thủ Độ giận, ném thanh gươm xuống sông mà bỏ đi. Trần Liễu thoát chết, nhưng thủ hạ đi theo mấy nghìn người đều bị giết cả. Sau Trần Liễu được phong ấp ở An Sinh (An Sinh Vương), tìm hào kiệt trong thiên hạ về dạy dỗ người con trai là Quốc Tuấn để báo thù.

Vua Thái Tông về kinh đô, có thời gian rảnh rỗi đều chuyên tâm vào việc học kinh, đến cuối đời đã thành một học giả uyên bác. Truyền thống nghiên cứu Phật học của các vua triều Trần bắt đầu từ vị vua đầu tiên. Thế nhưng, từ việc Thái Tông đến với Phật giáo như một cách giải cứu nỗi đau khổ nội tâm, đến việc Nhân Tông đến với Phật giáo với tư cách một giáo chủ, cũng như từ mối thù sinh tử của An Sinh Vương đến sự hoà hợp giữa hai họ nhà Trần dưới thời Hưng Đạo Vương (Trần Quốc Tuấn) có một gạch nối rất quan trọng.

Tuệ Trung là tên hiệu của Trần Tung, con cả của Trần Liễu (tức anh của Hưng Đạo Vương và hoàng hậu Thiên Cảm sau này). Lớn lên được cử trấn giữ đất Hồng Lộ (Hải Dương bây giờ). Trong chiến dịch giải phóng Thăng Long, ông cùng Hưng Đạo Vương đem 2 vạn người đánh bại tướng nhà Nguyên là vạn hộ Lưu Thế Anh. Sau chiến tranh ông được thăng tiết độ sứ Thái Bình, nhưng chẳng bao lâu từ chức, lui về thực ấp mà tu niệm.

Tuệ Trung khí lượng thâm trầm, phong thần nhàn nhã, bản tính thuần hậu, như người sinh ra để học đạo vậy. Các người tu hành đương thời đều kính trọng đạo học và tư duy của ông. Thượng sĩ (có nghĩa như Bồ tát) là cách vua Thánh Tông (cha của Nhân Tông) gọi ông. Vua Thánh Tông cưới em gái của Tuệ Trung (hoàng hậu Thánh Cảm), cũng là người tu hành, coi Tuệ Trung như sư huynh. Vua Nhân Tông (con Thánh Tông) sau theo học ông rất nhiều.

Tuệ Trung không coi trọng hình thức, không lên chùa mà tu tại gia. Một hôm hoàng hâu mời ông vào cung ăn tiệc. Trên bàn có những món mặn và món chay, ông đã gắp thức ăn một cách không phân biệt. Hoàng hậu hỏi: “Anh tu thiền mà ăn thịt cá thì làm sao mà thành Phật được?” Ông cười đáp: “Phật là Phật, anh là anh; anh không cần thành Phật. Phật không cần thành anh”. Nhân Tông lúc đó còn là cậu bé, ghi nhớ việc ấy. Đến khi trưởng thành, giả bộ ngây thơ hỏi thầy

-Bạch thượng sĩ, chúng sinh quen cái nghiệp ăn thịt uống rựơu thì làm thế nào mà thoát khỏi tội báo ?

Tuệ Trung trả lời

-Nếu có người đang đứng xây lưng lại, thình lình vua đi qua sau lưng, người ấy không biết, cầm một vật gì ném nhằm vua. Thử hỏi: người ấy có sợ không, ông vua có giận không? Nên biết hai việc ấy không dính líu gì với nhau vậy.

Tuệ Trung biết là Nhân Tông còn thắc mắc, liền đọc bài kệ

Có loài thì ăn cỏ.
Có loài thì ăn thịt
Xuân về thảo mộc sinh
Tìm đâu thấy tội phúc?

Nhân Tông băn khoăn

-Như vậy thì công phu giữ giới trong sạch không chút xao lãng là để làm gì?

Tuệ Trung cười không đáp. Vua cố nài. Tuệ Trung đọc bai kệ

Trì giới và nhẫn nhục
Thêm tội chẳng thêm phúc
Muốn siêu việt tội phúc
Ðừng trì giới nhẫn nhục.
Trì giới và nhẫn nhục, là căn bản tu luyện của nhà Phật. Tuệ Trung không có ý phá giới, nhưng muốn chỉ ra rằng sự phân biệt giữa tội và phúc, giữa trì giới và phá giới là một trở lực lớn trong việc giác ngôn. Ông chủ trương trì giới mà không kẹt vào ý niệm mình đang trì giới. Theo ông đây mới là con đường đến sự giải thoát. Ông tin vào sự hướng thiện, chống lại các thành kiến. Một hôm vua Nhân Tông hỏi về tông chỉ thiền phái của Tuệ Trung. Ông đáp:

-Hãy quay về tự thân mà tìm lấy tông chỉ ấy, không thể đạt được từ ai khác.

Khi ốm nặng, Tuệ Trung không nằm trong phòng riêng mà cho kê giường nằm ở thiền đường. Thê thiếp kêu khóc ầm ỹ. Thiền sư mở mắt ngồi dậy, bảo lấy nước rửa tay súc miệng rồi quở nhẹ rằng: “Sống chết là lẽ thường nhiên, sao lại buồn thảm luyến tiếc để cho chân tính ta náo động?”. Sau đó mất, thọ 61 tuổi.

Vua Nhân Tông tôn Tuệ Trung làm thầy, mặc dầu ông cũng không truyền y bát theo lối cổ điển. Các tác phẩm của Tuệ Trung ý nghĩa sâu xa, chú trọng việc giác ngộ qua chân tâm, học giả đời sau phân tích rất nhiều. Tư tưởng của ông ảnh hường mạnh mẽ lên thiền Trúc Lâm; Pháp Loa (tổ sư thứ hai của Trúc Lâm) viết về ông

Gang ròng nhồi lại
Sắt ống đúc thành
Thước trời đất
Gió mát trăng thanh.

Vĩ thanh: Núi Yên Tử từ lâu đã là thắng cảnh nổi tiếng, phong cảnh tao nhã. Từ khi có cáp treo, đến mùa lễ, người lên núi có ngày kể hàng vạn, khí thế dời sông bạt núi. Giặc Nguyên có đến, chắc cũng phải sợ. Báo chí đăng tin, nhiều vị tu hành đời nay, không biết có phải theo phong thái người xưa, ăn mặn khá dữ, ngoài ra nhắn tin lại cũng rất nhanh.

Advertisements

Like this:

Số lượt thíchĐang tải…

Liên quan

- Advertisment -

Most Popular

Recent Comments